Skip to content

Chính sách đối phó với nước lớn trong thời đại ngày nay

November 11, 2010

chinh sach, chinh tri, dat nuoc, nuoc lang gieng, ngay nay, doi dau, nhin nhuc – Nếu coi tinh thần trịch thượng của nước lớn và sự chênh lệch về sức mạnh của nó với nước láng giềng và sự kề cận địa lý là thực tế khách quan thì sự chủ động chính sách của nước nhỏ nhằm hạn chế điểm tiêu cực, phát huy điểm tích cực trong chính sách của nước lớn mới là điều đáng bàn.

LTS: Trong phần 2, bài viết Sống chung với láng giềng lớn hơn: Thực tiễn và chính sách” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế số 81 (tháng 6/2010), với tiêu đề “Xử lý mối quan hệ bất đối xứng: Chính sách của các nước nhỏ (hơn)”, PGS, TS Nguyễn Vũ Tùng, Viện Nghiên cứu Chiến lược Ngoại giao, Học viện Ngoại giao đi sâu phân tích các lựa chọn chính sách cho nước nhỏ trong mối quan hệ bất đối xứng với láng giềng lớn hơn.

Các phân tích trên cho thấy rằng ngoài việc coi sự kề cận địa lý và sự chênh lệch tiềm lực với nước lớn là thực tế khách quan, các nước nhỏ cũng phải coi lối suy nghĩ và hành vi ứng xử của các nước lớn cũng là một thực tế phải đương đầu. Nói cách khác, quyền chủ động nằm trong tay nước lớn. Ở mức tối ưu, nước nhỏ chỉ có thể giành quyền chủ động trong thế bị động. Nhưng chừng đó cũng có thể trở thành nội dung của những “chính sách thông minh” giúp các nước nhỏ đối phó với nước lớn.

Chính sách đối phó với nước lớn trong thời đại ngày nay được xây dựng trên một tiền đề quan trọng. Đó là các nước nhỏ không còn nỗi ám ảnh bị các nước lớn xâm lược, thôn tính, sát nhập.

Lô-gic của chủ nghĩa Hiện thực nhấn mạnh đến tồn vong quốc gia không thích hợp với các phát triển của chính trị quốc tế liên quan đến các nước thuộc thế giới thứ Ba: các nguyên tắc cơ bản được hình thành trong quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng như từ thập kỷ phi thực dân hoá (thập kỷ 60) đã không công nhận xâm lược và sát nhập lãnh thổ trong quan hệ giữa các quốc gia. Điều đó có nghĩa là mục tiêu sinh tồn của một nước không còn trở thành ưu tiên cao nhất. Như Migdal đã nhận xét, thực tế trong quan hệ quốc tế cho thấy số lượng quốc gia ra đời nhiều hơn số lượng quốc gia bị mất tên trên bản đồ quốc tế.

Đối đầu Mỹ – Cuba.

Như vậy, thách thức từ các nước lớn chủ yếu liên quan tới việc các nước lớn o ép các nước nhỏ, bao gồm việc hạn chế không gian tự chủ hành động của các nước nhỏ và giành phần hơn trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia (kể cả trong bối cảnh song phương và đa phương.)

Tất nhiên, như đã nêu ở trên, mức độ o ép tỉ lệ thuận với sự bất cân xứng về tiềm lực và sức mạnh, vì một lý do đơn giản là nước lớn hơn có nhiều nguồn lực và công cụ để gây ảnh hưởng tới nước ít nguồn lực và công cụ hơn.

Thách thức từ các nước lớn chủ yếu liên quan tới việc các nước lớn o ép các nước nhỏ, bao gồm việc hạn chế không gian tự chủ hành động của các nước nhỏ và giành phần hơn trong việc theo đuổi lợi ích quốc gia (kể cả trong bối cảnh song phương và đa phương.)

Nhiều nghiên cứu tình huống đã cho thấy một số dạng chính sách các nước nhỏ sử dụng để đối phó với nước lớn và bước đầu phân tích các điều kiện để dạng chính sách đó có hiệu quả, nhất là nếu được đặt từ góc độ sức mạnh thông minh.

Xuất phát điểm đầu tiên là chính sách của một nước lớn có thể khác nhau với các nước láng giềng khác nhau. Điều này cho thấy chính sách của nước lớn lệ thuộc nhiều vào chính sách của nước nhỏ (với các yếu tố giá trị địa chiến lược/địa kinh tế đặc thù của nước nhỏ đó).

Tất nhiên, chính sách của nước nhỏ cũng lệ thuộc vào lịch sử của chính sách nước lớn đối xử với nước nhỏ đó và quá trình tương tác chính sách này sinh ra những sự khác biệt: một nước lớn đối xử với các nước láng giềng theo các cách khác nhau. Tuy nhiên, nếu coi tinh thần trịch thượng của nước lớn và sự chênh lệch về sức mạnh của nó với nước láng giềng và sự kề cận địa lý là thực tế khách quan thì sự chủ động chính sách của nước nhỏ nhằm hạn chế điểm tiêu cực, phát huy điểm tích cực trong chính sách của nước lớn mới là điều đáng bàn. Đây chính là bản chất của một chính sách đối ngoại thông minh, dựa trên ý tưởng chủ đạo cho rằng “ngoại giao là nghệ thuật của những điều có thể”.

Nói cách khác, các nước nhỏ thông minh không bao giờ chấp nhận và đổ lỗi cho “thực tế khách quan” mà luôn luôn tìm ra những giải pháp có lợi nhất trong hoàn cảnh thực tế. Quả thực, trong quan hệ quốc tế vẫn có những tình huống nước nhỏ “dắt mũi” được nước lớn.

Lựa chọn chính sách cho nước nhỏ

Một số nét chính liên quan tới chính sách của các nước nhỏ là:

1. Ở mức chung nhất, “phù thịnh” dường như là một chính sách được nhiều nước theo đuổi hơn khi kết quả quan sát được là một mối quan hệ tương đối ổn định và có lợi hơn cho nước nhỏ.

Trong không gian hậu Xô-viết, các nước như Bê-la-rút, Ka-dắc-xtan áp dụng chính sách này và kết quả là đã nhận được trợ giúp nhiều mặt của Nga, nhất là về kinh tế, an ninh và sự tôn trọng ở một mức độ nào đó. Nhưng một số vấn đề cốt lõi trong quan hệ nước lớn – nước nhỏ vẫn còn nguyên. Đó là tinh thần nước lớn của Nga, và theo đó là tính chất bất bình đẳng trong quan hệ song phương, dù đã giảm đi so với thời Liên Xô còn tồn tại.

Nhưng, điểm chung đáng lưu ý là trong quan hệ song phương giữa các nước này với Nga đã không xảy ra những vấn đề quá gay cấn buộc phải sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Nga đem lại cơ hội nhiều hơn là thách thức cho các nước này.

Có một số lý do giải thích vì sao các nước này lại áp dụng chính sách phù thịnh (thân Nga hơn các nước khác). Tuy nhiên, có thể thấy rằng thái độ ôn hòa của Nga đối với các nước này trong hiện tại và quá khứ kết hợp với nhiều yếu tố khác như: Chính trị tương đối tập trung ở các nước Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan – điều đưa tới sự nhất trí trong nội bộ các nước này về chính sách thân hữu với Nga và chấp nhận ở một mức độ nào đó ảnh hưởng của Nga trong nội trị của mình; Vị trí địa chiến lược của các nước này quan trọng đối với Nga hơn là các nước lớn khác – điều đưa tới sự dính líu ở mức vừa phải của nhân tố nước lớn thứ ba… đã làm cho quan hệ giữa Nga và các nước này khá hữu nghị, dù vẫn còn các yếu tố phức tạp của quan hệ nước lớn – nước nhỏ.

Như vậy, có thể cho rằng các nước chủ trương hữu hảo với Nga đã có chính sách tương đối phù hợp và hiệu quả trong việc giảm thiểu sự bất lợi trong mối quan hệ bất cân xứng với nước láng giềng lớn là Nga. Thậm chí, trong trường hợp của Bê-la-rút, Nga còn áp dụng chế độ bao cấp/ưu đãi về mặt năng lượng như thời Liên Xô cũ.

Phù thịnh không có nghĩa là nước nhỏ bỏ hoặc coi nhẹ các nguyên tắc chủ yếu trong quan hệ với nước lớn. Cụ thể nước nhỏ vẫn phải giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ với nước lớn. Đây là yếu tố “bất biến” trong quan hệ với nước lớn. Chừng nào nước lớn không chấp nhận nguyên tắc này, nước nhỏ phải kiên quyết đấu tranh. Đây không chỉ là vấn đề chiến lược mà còn là vấn đề có tính chiến thuật trong quan hệ với nước lớn: càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn

Xét cho cùng, thái độ ôn hòa của Nga với các nước này dường như là sự “đền đáp” cho những nước quan tâm đến lợi ích của Nga. Cụ thể hơn, trong ba lợi ích an ninh, phát triển và ảnh hưởng trong chính sách đối ngoại của bất cứ quốc gia nào, lợi ích ảnh hưởng dường như nổi trội hơn đối với các nước lớn. Nga không lo bị tấn công và các nước láng giềng cũng lệ thuộc nhiều vào nền kinh tế Nga.

Nhưng nếu “tự ái nước lớn” của Nga bị đe dọa (nhất là khi các nước láng giềng thuộc không gian hậu Xô viết tỏ ra độc lập hơn, bắt tay với các nước lớn khác, và có các hành động phủ nhận lịch sử để qua đó phủ nhận vai trò của Nga) thì Nga sẽ có hành động cứng rắn. Đây là một biểu hiện của tinh thần nước lớn, có lẽ ngày càng không thích hợp với tình hình và xu thế quan hệ quốc tế hiện nay.

Chọc giận Nga, làm cho tự ái nước lớn của Nga bị tổn thương cũng không phải là một chính sách thông minh và thực tế cho thấy các nước như Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan đã không đi theo hướng này.

Độc lập, đa phương đa dạng hóa, nhưng coi Nga “nhỉnh” hơn so với các nước khác đã góp phần quan trọng trong việc giải tỏa quan hệ với Nga.

Thêm vào đó, trên cơ sở chứng minh được ưu tiên trong quan hệ với Nga, ngoài khả năng tăng cường quan hệ hợp tác, việc đấu tranh chống các biểu hiện nước lớn cũng như tranh thủ thu thêm lợi ích từ quan hệ với Nga sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Tóm lại, chính sách theo hướng phù thịnh tỏ ra tương đối có hiệu quả trong hai trường hợp của Bê-la-rút và Ka-dắc-xtan.

2. Về thực chất, chính sách trung lập cũng mang nhiều nét tương đồng với sự lựa chọn “phù thịnh”. Trường hợp của Phần Lan tương đối điển hình.

Về nguyên tắc, Phần Lan chủ trương trung lập nhưng trên thực tiễn, nước này áp dụng chính sách thiên về Nga một cách khá tinh tế mà bản chất của chính sách đó là xây dựng được lòng tin của lãnh đạo Nga về một nước Phần Lan – tuy có chế độ chính trị và kinh tế khác với Nga – nhưng trân trọng và ưu tiên quan hệ với Nga cũng như có các kênh để truyền tín hiệu đó và hành động chứng tỏ cách tiếp cận đó.

Một mặt, Phần Lan tích cực tăng cường quan hệ với các nước phương Tây để bớt lệ thuộc vào Nga. Mặt khác, chính Nga cũng không phản đối Phần Lan tăng cường quan hệ với phương Tây khi hiểu rằng Nga vẫn là ưu tiên trong quan hệ đối ngoại của Phần Lan. Vị thế của Phần Lan trong chính sách của Liên Xô từ sau năm 1945 và nhất là sau chiến tranh Lạnh có thể nói là tối ưu.

3. Chính sách đối đầu dường như là sự lựa chọn ít hiệu quả nhất. Có nhiều lý do để các nước nhỏ chọn lựa sự đối đầu. Tuy nhiên, sự lựa chọn đối đầu dường như có mối liên hệ với mâu thuẫn nội bộ của nước nhỏ láng giềng. Trường hợp của Gru-di-a và U-crai-na cho thấy khá rõ điều này.

Các thế lực tranh giành quyền lực chính trị bên trong từng nước đã sử dụng Nga như là một mối đe dọa để kích động tinh thần dân tộc, dùng tinh thần dân tộc làm ngọn cờ tập hợp lực lượng trong cuộc đấu đá nội bộ. Lô-gic phổ biến của hiện tượng này là dùng nguy cơ bên ngoài để ổn định bên trong.Cứ mỗi khi lực lượng thân Nga có ảnh hưởng trội hơn, quan hệ của Nga với U-crai-na và Gru-di-a trở nên ổn định và hợp tác hơn, theo đó các tranh chấp, mâu thuẫn song phương có thể có hướng giải quyết, các vấn đề gay cấn có thể tháo ngòi nổ. Nhưng cứ mỗi khi đấu tranh nội bộ ở hai nước này tăng lên, quan hệ với Nga lại trở nên khó khăn, căng thẳng, thậm chí xung đột.

Các nước nhỏ phần lớn bị thiệt hại khi lâm vào cuộc xung đột trực tiếp với nước lớn láng giềng

Sự lựa chọn đối đầu của nước nhỏ còn có thể được hình thành khi nước lớn – vì những lý do nhất định – có chính sách cực đoan, uy hiếp và đe dọa nhằm khuất phục nước nhỏ láng giềng.

Trường hợp của Cuba cho thấy Mỹ có thái độ xấu với Cuba kể từ khi cuộc cách mạng Cuba thắng lợi năm 1959 hoàn toàn do sự cay cú của tầng lớp lãnh đạo cao cấp của Mỹ thuộc cả hai đảng trước sự hình thành của một nhà nước Mác-xít ngay tại sân sau của Mỹ. Sự cay cú này bị mất đi phần lớn yếu tố ý thức hệ sau khi chiến tranh Lạnh kết thúc, nhưng sở dĩ không mất hẳn là vì sự ngạo mạn nước lớn của Mỹ đối với Cuba vẫn còn.

Ngoài ra, chính sách của Mỹ còn bị tác động bởi nhóm lợi ích hình thành trong số những người Cuba lưu vong chống chính quyền ở La Havana – đủ mạnh để ngăn chính quyền Mỹ có bước đi theo hướng hòa giải với Cuba. Quan hệ Mỹ – Cuba vì thế vẫn chưa có bước tiến về chất.

Các bước cải thiện quan hệ có thể diễn ra khi Mỹ có chính sách ôn hòa hơn, bớt đi liều lượng can thiệp, lật đổ trong cách tiếp cận mặc dù âm mưu thay đổi chế độ vẫn được theo đuổi – điều chính quyền Obama dường như đang áp dụng.

Nếu có thể tách bạch vòng luẩn quẩn có tính nhân quả của mối quan hệ thù địch nước lớn – nước nhỏ thì có thể cho rằng chính sách không khôn khéo của nước nhỏ cũng gây phức tạp thêm tình hình nhất là khi nước lớn không thiếu cách gây khó dễ cho nước nhỏ láng giềng.

Trong trường hợp này sự lựa chọn đối đầu và các nỗ lực đẩy mạnh quan hệ với các nước khác để cân bằng mối đe dọa từ phía nước lớn theo mô hình “cân bằng” là tương đối dễ hiểu. Yếu tố khác biệt về ý thức hệ và sự tập trung quyền lực trong nước nhỏ (cụ thể là không có sự thách thức đáng kể với lực lượng chính trị cầm quyền và theo đó là những tranh cãi về lựa chọn chính sách) càng làm cho sự đối đầu thêm sâu sắc, kể cả sau khi chiến tranh Lạnh chấm dứt.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào kết quả, các nước nhỏ phần lớn bị thiệt hại khi lâm vào cuộc xung đột trực tiếp với nước lớn láng giềng. Mức độ thiệt hại này thể hiện trên nhiều mặt. Trước hết, nước lớn bị đẩy tới vị thế khó có thể thỏa hiệp, vì lo sợ rằng bất cứ sự thỏa hiệp nào cũng là dấu hiệu của sự nhượng bộ cũng như thế yếu so với nước thứ ba. Vì thế, cách tiếp cận giải quyết tranh chấp thường theo hướng xung đột, quan hệ thường theo hướng căng thẳng trên nhiều mặt và nước lớn không thiếu cách để gây sức ép.

Về mặt chính trị, nước lớn luôn tìm cách ủng hộ phái thân mình ở nước nhỏ láng giềng và nếu phái chống mình nắm quyền, nước lớn sẽ tìm cách để gạt bỏ phái đó.

Ngoài ra, nước lớn còn kích động chủ nghĩa ly khai trong nội bộ nước nhỏ, xoáy sâu vào các mâu thuẫn sắc tộc, tôn giáo trong lòng nước nhỏ để làm suy yếu nước nhỏ hơn nữa. Do đó, chính sách nước lớn phần lớn có dấu hiệu can thiệp công việc nội bộ – điều làm cho tinh thần chống nước lớn có cơ hội phát triển mạnh hơn cũng như củng cố vị trí của phái chống, cô lập phái thân nước lớn.

Mức độ rủi ro đối với nước nhỏ là cao hơn, vì thế nhu cầu “chính sách thông minh” rõ ràng cao hơn.

Về mặt kinh tế, nước lớn tìm cách bao vây, cấm vận và tận dụng thế lệ thuộc của nước nhỏ về mặt kinh tế để gây sức ép kinh tế, qua đó tạo sức ép chính trị. Nói cách khác, nếu có thể tách bạch vòng luẩn quẩn có tính nhân quả của mối quan hệ thù địch nước lớn – nước nhỏ thì có thể cho rằng chính sách không khôn khéo của nước nhỏ cũng gây phức tạp thêm tình hình nhất là khi nước lớn không thiếu cách gây khó dễ cho nước nhỏ láng giềng.

Trên thực tế, do nước nhỏ ít có cơ hội sửa sai chính sách hơn so với nước lớn, mức độ rủi ro đối với nước nhỏ là cao hơn, vì thế nhu cầu “chính sách thông minh” rõ ràng cao hơn.

Thay lời kết luận

Tóm lại, việc áp dụng chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau) là một sự lựa chọn chính sách phổ biến hơn so với chính sách đối đầu (tức cân bằng lực lượng) với nước lớn láng giềng.

Tuy nhiên, phù thịnh không có nghĩa là nước nhỏ bỏ hoặc coi nhẹ các nguyên tắc chủ yếu trong quan hệ với nước lớn. Cụ thể nước nhỏ vẫn phải giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ trong quan hệ với nước lớn. Đây là yếu tố “bất biến” trong quan hệ với nước lớn. Chừng nào nước lớn không chấp nhận nguyên tắc này, nước nhỏ phải kiên quyết đấu tranh. Đây không chỉ là vấn đề chiến lược mà còn là vấn đề có tính chiến thuật trong quan hệ với nước lớn: càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn.

Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu chiến lược này, các nước nhỏ sẽ phải có những bước triển khai chính sách theo những phương châm đặc thù, thể hiện đúng so sánh lực lượng chênh lệch với nước lớn.

Một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn là điều cần có đầu tiên. Như đã phân tích ở trên, nếu chính sách “phù thịnh” (ở các mức độ khác nhau nhưng đều có đặc điểm là hòa bình chung sống, tôn trọng vị thế, ưu tiên lợi ích và đẩy mạnh quan hệ hợp tác với nước lớn láng giềng) là sự lựa chọn chính sách thì một nền ngoại giao hòa hiếu với nước lớn đó sẽ đóng một vai trò quan trọng.

Ở mức cực đoan, hòa hiếu thậm chí phải được hiểu là sự nhún nhường, kể cả nhịn nhục và chấp nhận một số thỏa hiệp miễn là không vi phạm đến mục tiêu căn bản của chính sách đối ngoại.

Mức độ phải chịu “nín nhịn” có thể được giảm đi thông qua các giải pháp sau: (i) Về song phương, tăng cường xây dựng lòng tin và thỏa thuận quy tắc ứng xử, đồng thời tăng cường quan hệ các mặt để tạo thế đan xen lợi ích, nhất là kinh tế (ii) Mở rộng quan hệ với các nước thứ ba để tạo thêm thế và lực cho nước nhỏ trong quan hệ với nước lớn, và (iii) Tham gia các cơ chế đa phương để tạo thêm ràng buộc hành vi và trách nhiệm của nước lớn đối với nước nhỏ.

Bản chất của chiến lược này là xây dựng sự lệ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích một cách rất linh hoạt. Đặc điểm của quan hệ quốc tế hiện nay cho thấy có điều kiện để chiến lược này được triển khai. Các đặc điểm đó bao gồm: sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ; toàn cầu hóa và sự lệ thuộc lẫn nhau; sự nổi lên của các vấn đề toàn cầu; quá trình dân chủ hóa quan hệ quốc tế tiếp tục phát triển và chi phối mạnh mẽ cục diện quốc tế…

Ngoài ra, các nước lớn tuy cạnh tranh gay gắt với nhau cũng đồng thời tìm kiếm sự thỏa hiệp, đẩy mạnh hợp tác làm cho nhu cầu tìm kiếm đồng minh từ các nước nhỏ không còn trở nên bức thiết như trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Càng giữ được độc lập, giá trị của nước nhỏ sẽ càng cao trong quan hệ với nước lớn. Ảnh: Reuters.

Hơn nữa, khi toàn cầu hóa phát triển, các nước đều có thể tận dụng lợi thế so sánh của mình để phát triển: nước nhỏ, kể cả nghèo nàn và lạc hậu, cũng có thể có cơ hội hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động quốc tế.Kết quả tổng thể của tình trạng này là vai trò và vị trí của các nước nhỏ tăng lên trong chính sách của các nước lớn, đa phương được ưa chuộng hơn đơn phương, và các nước nhỏ có nhiều điều kiện hơn để giữ vững độc lập chính trị và phát triển kinh tế. Trong hoàn cảnh đó thuận lợi đó, nước nhỏ có thể bớt đi liều lượng “nhịn nhục”.

Nếu bản chất của chính sách Câu Tiễn là “biến đại sự thành tiểu sự” thì trong tình huống này, nước nhỏ – với sự hỗ trợ của các thể chế/ tổ chức quốc tế và sự ủng hộ của các nước khác – cũng có thể “biến tiểu sự thành đại sự” để dùng sức mạnh bên ngoài đấu tranh với nước lớn láng giềng (giới hạn ở trong phạm vi không làm mất mặt nước lớn).

Tất nhiên, điều này càng chứng minh rằng những mặt thuận lợi mà điều kiện khách quan đưa lại phải được phát huy bằng những tư duy và chính sách có tính chủ quan. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng một số nước đã có chính sách hiệu quả hơn, tận dụng hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi để đương đầu với nước lớn láng giềng.

Nói cách khác, mức độ “thông minh” trong chính sách khác nhau sẽ đưa tới kết quả chính sách khác nhau, do tuy có chung các điều kiện khách quan, các nước nhỏ không có một khuôn mẫu hoặc công thức chính sách chung để đương đầu với nước lớn láng giềng trong các hoàn cảnh cụ thể.

Joel Migdal, Strong Societies and Weak States: State-Society Relations and State Capability in the Third World, (Princeton, N. J.: Princeton University Press, 1988). Xem thêm đề tài An ninh phi truyền thống ở Đông Nam Á (Học viện Ngoại giao, 2007).

Xem Vũ Khoan, “An ninh, phát triển và ảnh hưởng trong hoạt động đối ngoại” trong Chính sách đối ngoại Việt Nam, Học viện Quan hệ Quốc tế, (Hà nội: Nhà xuất bản Thế giới, 2007).

Khi các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ có làn sóng đập tượng Lênin, Phần Lan đã tìm cách đem tượng của Lênin về trưng bày trang trọng ở Phần Lan. Hành động này làm cho lãnh đạo và nhân dân Nga – nhất là trong giai đoạn Tổng thống Nga V. Putin muốn khôi phục lại một số giá trị thời Liên Xô – rất cảm kích và theo đó Nga càng ôn hòa hơn với Phần Lan.

Xem Edward D. Mansfield và Jack Snyder, From Voting to Violence: Democratization and Nationalist Conflict; Myths of Empire: Domestic Politics and International Ambition; (New York: Columbia University, 1998).

Xem Nguyễn Cơ Thạch, “Những chuyển biến trên thế giới và tư duy mới của chúng ta,” trong  Chính sách đối ngoại Việt Nam, Học viện quan hệ quốc tế, (Hà nội: Nhà xuất bản Thế giới, 2007).

No comments yet

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: